Hoạt động của Trung tâm
NGÀY HỘI TIẾNG HÀN LẦN THỨ 563- TUNG CÁNH BAY XA! 1926-2009.10.9
- ngày đăng06.10.2009
Để tính ưu việt và tính sáng tạo của một loại hình di sản văn hóa, tỏa sáng Hàn Quốc-tiếng Hàn-được biết rộng rãi, nhân dịp 563 năm ngày tiếng Hàn ra đời, Trung tâm Văn hóa Hàn Quốc tổ chức "Ngày hội tiếng Hàn" như sau:
1.Thời gian : 9h30 Chủ nhật ngày 11 tháng 10 năm 2009
2.Chương trình :
| Tên tiết mục
|
Tham gia
|
||
| Tiết mục 1
|
10 : 00 ~ 12 : 00
|
Thi diễn theo truyện tranh Hàn Quốc
|
-Học viên lớp tiếng Hàn
|
|
Ẩm thực
|
12 : 00 ~1시 : 30
|
-Làm món ăn Việt Nam ( bún nem, phở cuốn)
-Làm món ăn Hàn Quốc (Cơm cuốn lá kim, Teokbokki
|
- 4 đội tham gia trực tiếp làm ( học viên lớp tiếng Hàn)
- Cùng nhau thưởng thức ( thành viên trực tiếp cùng thành viên cổ vũ)
|
| Tiết mục 2. Ảo thuật
|
1: 30~2:00
|
|
Tình nguyện viên Koica
|
| Buổi chiều
|
2:00 ~
5: 00
|
1.Trò chơi tiếng Hàn
2. Biểu diễn Taekwondo
3.Viết tiếng Hàn theo ý thích
4. Trao phần thưởng
|
- 6 đội ( 5 đội học viên và 1 đội hội viên)
|
3.Hình thức đăng ký thăm gia
-Học viên lớp học tiếng Hàn trực tiếp đăng ký với giáo viên Jeong Hye Jin
-Hội viên muốn tham dự, xin vui lòng đăng ký tại bàn lễ tân vào ngày 8/10/2009 (sáng từ 9h~12h, chiều từ 1h30~18h)
4.Hướng dẫn làm ẩm thực và thi diễn theo truyện tranh
- Nhóm tham gia làm món ăn sẽ nhận kinh phí từ Trung tâm
- Thi diễn theo nội dung truyện tranh như sau :
[복방귀] -Rắm phúc-
옛날 옛날 어느 마을에,
Ngày sửa ngày xưa ở một làng nọ,
아주 방귀를 잘 꾸는 뽕순이라는 처녀가 있었어요.
Có một cô gái tên là Pongsuni rất hay đánh rắm.
어느 날, 뽕순이는 시집을 갔어요.
Vào một ngày kia Pongsuni đi lấy chồng
그런데 뽕순이 얼굴이 날이 갈수록 누렇게 변해갔지요.
Thế nhưng sắc mặt của Pongsuni càng ngày càng vàng vọt xanh xao đi
"얘, 아가야! 어디 아프기라도 한 게냐?"
"này, con ơi! con bị đau ở đâu à?"
"저, 사실은 방귀를 참아서 그렇사옵니다."
"Con, thật ra là do con nhịn đánh rắm nên mới thế đấy ạ."
"허허허, 참지 말고 맘대로 꾸어도 괜찮다."
"Hơ hơ hơ, con đừng có nhịn cứ đánh rắm thỏa mái đi không sao đâu."
"그런데 제 방귀가 워낙 세서 걱정이옵니다. 죄송하지만, 아버님은 기둥을 잡고 계시고, 어머님은 솥뚜껑을 잡고 계세요."
"Thế nhưng con lo là rắm của con quá mạnh. Xin lỗi bố mẹ, bố hãy bám cột nhà và mẹ cầm cái nắp nồi cho con."
뽕순이는 방귀를 뀔 준비를 했어요. 그리고는,
"하나, 둘, 셋, 뽀웅~."
Pongsuni chuẩn bị đánh rắm và đếm,
"Một, hai, ba, bu ùng~."
방귀가 얼마나 센지 시아버지는 마당에 벌렁 떨어지셨어요.
Rắm mạnh đến nỗi mà bố chồng bị ngã ngửa ra sàn nhà.
그리고 시어머니는 솥뚜껑을 타고 '삐~용' 천장까지 올라갔지요.
còn mẹ chồng cùng với nắp nồi bay vút lên trần nhà.
"아니, 이런! 당장 썩 물러가거라!"
"Ối trời, chuyện gì thế này, cô ra khỏi nhà ngay!"
이렇게 해서 뽕순이는 집에서 쫓겨나게 되었어요.
Vì chuyện như thế mà Pongsuni bị đuổi ra khỏi nhà
한참을 걸어서 언덕을 지날 때였어요.
Cô đi một lúc lâu khi đi qua một quả đồi
이웃 마을에 사는 김대감댁 사람들이 보였어요.
Cô nhìn thấy mọi người đang tập trung ở nhà một phú ông ở làng bên
그들은 나무 끝에 매달린 홍시를 따려고 몹시 애쓰는 모습이 보였어요.
Mọi người đang cố hết sức để hái những quả hồng ở trên cành cao
"제가 따드리겠습니다."
"Tôi sẽ hái cho."
뽕순이가 방귀를 '뽀웅~'하고 뀌자 홍시가 바닥으로 뚝 떨어졌어요.
Pongsuni đánh rắm cái 'bu ùng~' những quả hồng rơi rào rào xuống đất
김대감님은 뽕순이에게 고맙다며 상까지 주는 것이었어요.
Phú ông rất cảm ơn Phongsuni nên đã cho Phongsuni phần thưởng để cảm ơn.
이 소문을 들은 시아버지와 시어머니는
Bố mẹ chồng của Pongsuni đã nghe thấy tin tức này
"얘, 아가야! 네 방귀가 복방귀였어. 미안하다."
"Này, con ơi! rắm của con là rắm phúc đấy. Bố mẹ xin lỗi nhé."
시아버지와 시어머니는 뽕순이를 전보다 더욱 사랑해 주셨답니다.
Từ đó trở đi bố mẹ chồng Pongsuni còn yêu quý Phongsuni hơn cả trước đây.
[팥죽으로 호랑이를 물리친 할머니]- Bà lão trị Hổ bằng cháo đậu đỏ-
옛날, 한 산골짜기에 할머니가 살고 있었어요. 그런데 밤마다 호랑이가 나타나 닭이며 돼지며 송아지를 잡아가곤 했어요.
Ngày xưa, có một Bà lão sống trong một làng ở sâu trong núi. Mỗi đêm Hổ đều xuất hiện để bắt gà, lợn, bê.
할머니는 호랑이가 미웠지요. 그 놈을 단단히 혼내 주고 싶었어요. 그래서,
Bà lão rất ghét hổ. Bà lão muốn cho hổ một trận. vì thế
"호랑이야, 내일 팥죽을 끓여 놓을 테니 와서 먹어라."
하고 말했어요. 호랑이가,
"Hổ à, ngày mai tao sẽ nấu cháo đậu đỏ đấy mày đến mà ăn nhé.
Bà lão nói với Hổ. Hổ nói
"예. 고맙습니다. 내일 찾아오겠어요."
"Vâng. cảm ơn Bà. ngày mai tôi sẽ đến."
하며 사라지자, 할머니는 부엌에 있는 물통에 고춧가루를 풀어놓았어요. 선반에는 바늘을 잔뜩 꽂은 행주를 놓아두었어요. 그리고 마당에는 쇠똥을 깔아 놓았어요. 대문에는 멍석과 지게를 세워 두었지요.
Ngay khi Hổ vừa đi, Bà lão vào bếp rắc ớt bột vào thùng nước. Cắm đầy kim vào khăn để ở trên khay đựng bát. Dải đầy phân bò ra sàn nhà. Ở cửa chính để chiếc chiếu và chiếc gùi.
다음날 저녁, 호랑이가 팥죽을 먹으러 찾아오자 할머니는,
Vào tối ngày hôm sau, khi Hổ tìm đến để ăn cháo đậu đỏ Bà lão nói,
"방안으로 들어오겠니? 하지만 방안이 무척 춥구나. 부엌에 가서 화로를 갖고 오겠니."
"Mày đã vào trong nhà chưa? Trong nhà rất lạnh phải không. Mày hãy vào bếp đốt lò lên."
했어요. 호랑이는 화로를 가지러 부엌으로 들어갔어요.
Hổ đi vào bếp để đốt lò.
"그런데 할머니, 화로가 꺼져 있어요."
"Nhưng Bà ơi, lửa gần tắt rồi."
"입으로 후후 불어 보거라."
"Hãy thổi bằng miệng cho lửa cháy lên đi."
호랑이는 시키는 대로 입으로 화로를 불었어요. 재가 얼굴로 확 풍겼지요.
Hổ làm theo lời Bà lão dùng miệng thổi vào lò. Tro bếp bay đầy vào mặt Hổ.
"할머니, 재가 눈에 들어가 눈을 못 뜨겠어요."
"Bà ơi, tro bếp bay vào mắt tôi rồi không mở được mắt ra."
"그럼 물통을 찾아 봐. 물로 눈을 씻으란 말야."
"Thế thì mày tìm thùng nước đi. Phải rửa mắt bằng nước."
하지만 호랑이는 비명을 질렀어요.
Thế nhưng Hổ khóc thét lên.
"할머니, 고춧가루를 탄 물인가 봐요. 너무 쓰라려요."
"Bà ơi, trong nước có ớt bột. cay quá
"그럼 선반 위에 있는 행주로 닦거라."
“Thế thì mày lấy khăn trên khay đựng bát mà lau đi."
"그렇지만 할머니, 행주에 꽂혀 있는 바늘에 눈이 찔렸단 말이에요."
"Nhưng bà ơi, khăn có đầy kim làm rách mắt tôi rồi."
호랑이는 눈이 아파 어쩔 줄 몰라했어요. 그러자 할머니가 버럭 소리쳤어요.
Hổ đau mắt quá không biết phải làm thế nào. ngay lúc đó Bà lão hét lên.
"떼끼, 이 못된 호랑이야! 당장 꺼져라!"
"Này, con Hổ đáng nghét này, hãy biến ngay đi!"
호랑이는 그때서야 할머니에게 속은 줄 알고 얼른 마당으로 뛰어나갔어요. 하지만 마당에 깔린 쇠똥에 미끄러지고 말았지요.
Hổ lúc đó mới biết là Bà lão lừa mình nên nhanh chóng chạy trốn. thế nhưng dưới sàn nhà đầy phân bò nên rất trơn.
이번에는 멍석 도깨비가 와서 호랑이를 둘둘 말았어요. 또 지게 도깨비가 와서 멍석에 말린 호랑이를 짊어졌어요.
Lúc đó chiếc chiếu chạy ra cuộn tròn lấy hổ. Còn chiếc gùi chạy ra cho Hổ vào gùi
"얘들아, 그 놈을 아주 멀리 내다 버리거라!"
"Nào các con, hãy vất con hổ này ra thật xa."
지게 도깨비는 할머니가 시키는 대로 호랑이를 아주 멀리 내다 버렸답니다.
Chiếc gùi làm theo lời bà lão đã vất hổ đi thật xa.
[꾀 많은 여우] -Con Cáo thông minh-
사자가 먹을 것을 구하러 숲에서 나왔어요. 터벅터벅 걷고 있었지요.
Sư tử vào rừng để săn mồi. Nó đi từng bước nhẹ nhàng
'아, 배고프다. 어디 맛있는 요리 없을까?'
"Ôi, đói bụng quá, sao không có cái gì ngon để ăn nhỉ?
그런데 저 앞에서 발걸음 소리가 들려 왔어요. 보니까, 염소 한 마리가 나타났지 뭐예요.
Thế nhưng nó đã nghe thấy tiếng bước chân từ xa. Nhìn kĩ ra, có một con Dê đang đến gần
"이봐, 염소야! 나 좀 보자."
"Này, Dê! lại đây tao bảo."
사자는 염소를 불러 세웠어요.
Sư tử gọi Dê lại.
"왜 그러세요, 사자님."
"Sao thế ạ, ngài Sư tử."
"내 입에서 무슨 냄새가 나는지 맡아보아라. 자, 입을 벌릴 테니."
"Mày ngửi thử xem trong miệng tao có mùi gì. Nào, tao mở miệng đây."
그래서 염소는 사자의 큰 입에 코를 대고 냄새를 맡았어요. 아주 고약한 냄새가 났지요.
Dê đưa mũi vào miệng to của sư tử và ngửi thấy mùi rất thối.
"그래. 무슨 냄새가 나더냐?"
"Đúng rồi, có mùi gì thế?"
"사자님, 죄송하지만, 아주 고약한 냄새가 나는데요."
"Ngài sư tử, phải xin lỗi ngài nhưng miệng ngài có mùi rất thối."
"뭐라고! 이 버르장머리 없는 놈 같으니라고!"
"Mày vừa nói gì?
화가 난 사자는 염소에게 달려들어 한 입에 잡아먹었어요.
Sư tử giận dữ vồ lấy Dê ăn thịt.
"아, 맛 좋다. 어흥."
"A, ngon thật, hơ ừng."
사자는 입맛을 다시며 다시 터벅터벅 걸었어요.
Sư tử lại nhẹ nhàng đi từng bước để săn mồi tiếp.
그런데 이번에는 늑대 한 마리가 사자의 눈에 띄었어요.
Nhưng lần này sư tử nhìn thấy một con Chó sói.
"이봐, 늑대야!"
"Này, Sói!"
"아이쿠, 사자님. 안녕하세요."
"Ối trời ơi, ngài sư tử. xin chào ngài ạ."
"그래. 그건 그렇고. 내 입에서 무슨 냄새가 나는지 한 번 맡아보거라."
"Được rồi. mày hãy ngửi xem miệng tao có mùi gì không."
사자는 또 입을 크게 벌렸는데, 역시 아주 고약한 냄새가 났어요. 그렇지만 늑대는 시침을 뚝 떼고,
Sư tử lại mở miệng to ra, quả đúng là có mùi rất thối. Nhưng Chó sói giả vờ không biết,
"사자님, 아무 냄새도, 아니. 오히려 향기로운 냄새가 나네요."
"Ngài Sư tử, rất là mùi, à không, ngược lại miệng ngài có hương thơm đấy ạ"
하고 거짓말을 했어요.
Chó sói đã nói dối như thế.
"뭐라고! 이 놈이 어른을 희롱해!"
"Mày nói cái gì! thằng này mày dám đùa với người lớn thế à?"
사자는 늑대가 거짓말을 했다는 이유로 또 한 입에 잡아먹었어요.
Sư tử lấy lý do Chó sói dám nói dối mình lại vồ lấy ăn thịt.
"아, 맛 좋다. 어흥."
"A, ngon thật, hơ ừng."
그 다음에 사자의 눈에 띈 것은 한 마리 여우였어요. 그 여우를 불러 세웠지요.
Tiếp theo Sư tử nhìn thấy một con Cáo. Sư tử lại gọi Cáo lại.
"이봐, 여우야! 내 입에서 무슨 냄새가 나는지 한 번 맡아 보거라."
"Này, Cáo! mày ngửi thử xem miệng tao có mùi gì không."
그런데 여우는 꾀가 많은 동물이잖아요. 사자에게 잡아먹히게 될 상황에서 꾀를 생각해 냈어요. 몸이 무척 아픈 것처럼 했지요.
Cáo vốn là động vật rất thông minh. Vì đang rơi vào tình huống sắp bị Sư tử ăn thịt nên Cáo vận dụng trí khôn của mình. Cáo giả vờ bị ốm nặng.
"아이고, 아이고, 사자님, 저는 지금 감기에 걸리고 신경통에 걸리고 뱃속에도 병이 생겨서 아무런 냄새도 맡을 수 없답니다."
"Ối trời ơi, ối trời ơi, bẩm ngài sư tử ạ, bây giờ tôi bị cảm và mất hết cảm giác và cả đau bụng nữa vì vậy tôi không thể ngửi được bất kì mùi gì ạ."
그 말에 사자는 깜짝 놀랐어요.
Sư tử nghe xong rất ngạc nhiên.
"뭐, 뭐라구, 병이 잔뜩 들었다고?"
"Cái gì, mày vừa nói cái gì, mày nói mày bị bệnh đầy người à?"
사자는 여우를 잡아먹기는커녕 뒷걸음질을 쳤어요.
Sư tử định bắt Cáo để ăn thịt nhưng bây giờ lại lùi từng bước ra đằng sau
"제발 나에게 가까이 오지 마! 병 옮길라."
"Mày làm ơn đừng lại gần tao! lây bệnh cho tao bây giờ"
사자는 날 살려라 도망을 쳤어요. 그 모습을 보며 여우는 깔깔깔 웃었고요.
Sư tử bỏ chạy như bay. Cáo nhìn thấy thế cười sung sướng.
(Biên dịch truyện: Đào Phương Lan)